TPHCM đang từng bước hoàn thiện mạng lưới vành đai, cao tốc, đường sắt và metro, mở rộng kết nối giữa đô thị, khu công nghiệp, cảng biển, sân bay và các trung tâm logistics, qua đó tạo điều kiện tổ chức lại không gian phát triển của siêu đô thị.
Từ Những Tuyến Riêng Lẻ Đến Mạng Lưới Đa Hướng
Trong nhiều năm, giao thông TPHCM phát triển chủ yếu theo các trục xuyên tâm. Phần lớn dòng người và hàng hóa từ các địa phương vào thành phố tập trung qua một số cửa ngõ, khiến ùn tắc tại một điểm dễ lan sang các tuyến lân cận.
Việc nâng cấp quốc lộ 1, quốc lộ 13 và triển khai Vành đai 4 vì vậy cần được đặt trong một mạng lưới rộng hơn. Cùng với các dự án cửa ngõ, Vành đai 2, Vành đai 3 đang được hoàn thiện, cao tốc TPHCM – Mộc Bài đã khởi công, nhiều tuyến kết nối liên vùng khác cũng được thúc đẩy.
Theo TS Nguyễn Hữu Nguyên, Hội Quy hoạch TPHCM, giá trị của các tuyến vành đai không chỉ nằm ở việc tăng năng lực giao thông mà còn ở khả năng phân bổ lại dòng xe. Những phương tiện không có nhu cầu đi vào khu vực trung tâm có thể được tổ chức theo các hành lang bên ngoài, giảm áp lực cho các trục xuyên tâm.
Tuy nhiên, để mạng lưới phát huy hiệu quả, hạ tầng giao thông phải đi cùng năng lực tổ chức, quản lý và điều phối.
Theo KTS Ngô Anh Vũ, chuyên gia quy hoạch đô thị, TPHCM hiện có thêm điều kiện để đẩy nhanh phát triển hạ tầng khi công nghệ, quản lý ngày càng số hóa, thủ tục được rút ngắn và khả năng huy động nguồn lực xã hội được mở rộng.
Đường Bộ Mở Hành Lang, Metro Tạo Tầng Kết Nối Mới
Khi mạng lưới đường bộ tạo các hành lang vận tải liên vùng, đường sắt và metro lại mở thêm một tầng kết nối cho hành khách, giúp giảm sự phụ thuộc vào phương tiện cá nhân.
Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên là bước khởi đầu cho quá trình hình thành mạng lưới đường sắt đô thị của TP.HCM.
Theo kế hoạch, thành phố phấn đấu đến năm 2030 hoàn thành khoảng 255km đường sắt đô thị. Sau khi mở rộng địa giới, mạng lưới tiếp tục được rà soát để phù hợp với không gian phát triển mới.

Mạng lưới vành đai, cao tốc đang từng bước hoàn thiện, tăng khả năng kết nối TP.HCM với các tỉnh, thành trong vùng
Tầm nhìn dài hạn được nghiên cứu với mạng lưới khoảng 1.540km vào năm 2050, gồm khoảng 1.100km metro và 440km đường sắt nhẹ.
Các tuyến đường sắt đô thị được định hướng tăng kết nối giữa khu vực trung tâm với những không gian phát triển tại Bình Dương, Đồng Nai, khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu cũ và Tây Ninh. Tuyến đường sắt Thủ Thiêm – Long Thành cũng được kỳ vọng tạo thêm hành lang kết nối trung tâm TPHCM với sân bay Long Thành và khu vực phía Đông.
Theo TSKH.KTS Ngô Viết Nam Sơn, việc đồng loạt triển khai các dự án hạ tầng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình mở rộng không gian phát triển của TPHCM và toàn vùng.
Những công trình này, nếu được kết nối đồng bộ với sân bay, cảng biển, khu công nghiệp, trung tâm dịch vụ và logistics, có thể tạo nền tảng cho sự hình thành các trung tâm kinh tế mới.
Theo ông, trong phát triển siêu đô thị và liên kết vùng, nền tảng quan trọng hàng đầu là hạ tầng kết nối. Những công trình đang được triển khai sẽ tạo ra mạng lưới liên kết rộng hơn phạm vi một thành phố, qua đó hình thành một vùng kinh tế có sức lan tỏa rất lớn.
Tuy nhiên, bài toán của TPHCM hiện nay không còn là xây dựng từng tuyến giao thông riêng lẻ mà phải hình thành một hệ thống liên kết.
Đường bộ, đường sắt, metro, xe buýt và các đầu mối giao thông cần được tổ chức để người dân có thể chuyển đổi thuận tiện giữa các phương thức.
Đặc biệt, các ga metro cần được nhìn như hạt nhân tổ chức không gian đô thị thay vì chỉ là công trình vận tải.
Một trong những hướng quan trọng là phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD). TOD không đơn thuần là xây dựng nhiều nhà cao tầng quanh nhà ga mà phải hình thành một hệ sinh thái đô thị với nhà ở, việc làm, trường học, thương mại, dịch vụ, công viên và không gian công cộng được tổ chức phù hợp với khả năng tiếp cận giao thông công cộng.
Ông Sơn đánh giá, TPHCM đang có dư địa lớn để phát triển TOD, đặc biệt khi sau hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, không gian đô thị và các vùng động lực kinh tế được mở rộng đáng kể. Đây cũng là cơ sở để thành phố phát triển mạng lưới metro gắn với tổ chức lại không gian đô thị trong những năm tới.
Khi các tuyến metro hình thành mạng lưới, những nhà ga có thể trở thành các điểm kết nối tập trung dân cư, việc làm và dịch vụ. Nếu được quy hoạch đồng bộ, sự phát triển đô thị có thể từng bước phân bổ ra nhiều khu vực thay vì tiếp tục dồn vào khu vực trung tâm.
Đây cũng là điểm khác biệt giữa việc đơn thuần mở rộng hạ tầng, và việc sử dụng hạ tầng để tổ chức lại không gian đô thị. Một tuyến đường có thể rút ngắn thời gian di chuyển, nhưng để tạo thành một cực phát triển mới còn cần quy hoạch đất đai, việc làm, dịch vụ, hạ tầng xã hội và các đầu mối giao thông kết nối với nhau.
Nhìn từ toàn bộ mạng lưới, quốc lộ 1, quốc lộ 13 hay Vành đai 4 không còn là những dự án riêng lẻ. Các tuyến cửa ngõ tăng năng lực kết nối; Vành đai 2 và Vành đai 3 phân bổ lại dòng giao thông quanh đô thị; Vành đai 4 và các tuyến cao tốc mở rộng liên kết vùng; đường sắt và metro tạo thêm những hành lang vận tải mới cho hành khách.
Khi các lớp hạ tầng được kết nối và tổ chức đồng bộ, những khu vực trước đây nằm ngoài các dòng giao thông chính sẽ có thêm điều kiện tiếp cận việc làm, dịch vụ, sản xuất và logistics. Các trung tâm phát triển mới có thể hình thành tại những khu vực có lợi thế về hạ tầng, quỹ đất và chức năng kinh tế, thay vì mọi hoạt động tiếp tục tập trung vào khu vực lõi.
Theo hướng đó, việc mở rộng các cửa ngõ không chỉ nhằm giải tỏa ùn tắc trước mắt mà còn tạo tiền đề để TPHCM từng bước chuyển từ cấu trúc phụ thuộc vào một trung tâm sang mô hình phát triển đa cực, trong đó các khu vực được liên kết bằng mạng lưới giao thông nhiều tầng.
Ý nghĩa dài hạn của những dự án này vì vậy không chỉ nằm ở thêm làn xe, thêm tuyến đường hay thêm một tuyến metro. Quan trọng hơn, đó là hình thành các hướng kết nối mới, mở rộng phạm vi tiếp cận của đô thị và tạo điều kiện để các khu vực, đô thị, khu công nghiệp, trung tâm logistics, cảng biển và sân bay cùng tham gia vào một không gian kinh tế ngày càng liên kết.
Nhóm PV miền Nam, Tạp chí Xây Dựng

